DIỄN ĐÀN TUỔI 7X-8X

DIỄN ĐÀN VỀ TUỔI 7X-8X
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 307
Join date : 17/01/2016

Bài gửiTiêu đề: KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ.   Sat Jan 23, 2016 7:38 pm

1/ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ.tsyh340 2Được chỉ định trong bệnh Parkinson và những rối loạn vận động, những sốc điện cường độ nhỏ này càng ngày càng nhắm vào nhiều bệnh lý.NEUROLOGIE. ” Những kích thích vùng sâu của não bộ (stimulation cérébrale profonde) có thể cho những kết quả ngoạn mục. Trong trường hợp chứng run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel), các bệnh nhân được biến hóa và có thể lấy lại một hoạt động bình thường “, GS Jean-Paul Nguyen trưởng khoa ngoại thần kinh của CHU de Nantes, đã nhấn mạnh như vậy. ” Vả lại thật đáng tiếc rằng, đối với bệnh lý rất gây phế tật và rất thường gặp này, rất ít những bệnh nhân được gởi đến cho chúng tôi.” Trước hết chính trên những triệu chứng run mà kỹ thuật này đã mang lại những bằng cớ về tính hiệu quả của nó, trong những thử nghiệm đầu tiên hết được thực hiện ở Grenoble bởi những giáo sư Benabib và Pollack vào đầu những năm 1990. Ngày nay Bộ y tế công nhận ba lãnh vực áp dụng của kích thích điện vùng sâu (SCP : stimulation cérébrale profonde) : bệnh Parkinson, những chứng run gây phế tật nặng và một rối loạn của trương lực cơ, dystonie primaire pharmaco-résistante. SCP cũng được chỉ định trong những chỉ định khác, hoặc bởi vì nó có một mức chứng cớ khoa học đủ để được cho phép ngoài khung cảnh những chỉ định chính thức (đọc dưới đây), hoặc trong khung cảnh những thử nghiệm điều trị đã được tiến hành hiện nay trong nhiều bệnh viện ở Pháp.SCP nhằm đặt những điện cực trong não bộ để kích thích vài nhóm những tế bào thần kinh bằng cách cho qua chúng một dòng điện cường độ thấp trong mục đích làm gia tăng hay ức chế hoạt động của chúng. Những áp dụng đầu tiên nhằm làm biến mất những rối loạn vận động như những triệu chứng run bất trị được kiểm soát bởi đồi thị (thalamus), nhưng những đích khác đã nhanh chóng được đề nghị, như nhân dưới đồi thị (noyau sous-thalamique) có liên hệ trong những triệu chứng của bệnh Parkinson hay globus pallidus trong trường hợp những dystonie.
SCP ban đầu đã được hiệu chính để đề nghị một giải pháp thay thế cho những kỹ thuật ngoại khoa trong đó những vùng được nhắm bị phá hủy một cách không đảo ngược được. Thật khó đánh giá một cách chính xác lượng mô cần phá hủy và những phá hủy hai bên có một hậu quả đặc biệt : chúng có thể gây nên những hậu quả không được mong muốn lên những chức năng nhận thức, bước đi hay lời nói, hai điểm quan trọng đối với một phương pháp không thể đảo ngược.
Vì thế, cũng như mọi động tác ngoại khoa, SCP có một nguy cơ cao hơn nhiều so với mọi điều trị bằng thuốc : những biến cố không được mong muốn ảnh hưởng lên khoảng 5% những bệnh nhân. Nước Pháp, nước tiền phong trong lãnh vực này, có một trình độ chuyên môn đặc biệt, nhất là đối với những kíp được trang bị một cách đặc thù đối với loại can thiệp này và thực hiện chúng đều đặn.
NGUY CƠ TƯƠNG ĐỐI THẤP
Ngay cả tương đối thấp, nguy cơ biện minh rằng SCP chỉ được khuyến nghị khi không có một điều trị nào khác có hiệu quả hay đủ chịu đựng được bởi bệnh nhân. Tiêu chuẩn đầu tiên này, liên kết với mức độ nghiêm trọng của những triệu chứng, chỉ là một trong những yếu tố của một quá trình chọn lọc và bàn luận nhiều chuyên khoa, cần thiết để đảm bảo rằng kỹ thuật chỉ được áp dụng ở những bệnh nhân mà lợi ích vượt quá nguy cơ ngoại khoa. Một khi giai đoạn này đã vượt qua, bệnh nhân còn phải đợi từ 6 tháng đến một năm để được mổ. ” Thời hạn này trước hết liên quan đến thời gian cần thiết để quản lý mỗi bệnh nhân trước và sau can thiệp : ngay cả những khoa chuyên môn nhất dành cho kỹ thuật này cũng chỉ có thời gian mổ một hay hai bệnh nhân mỗi tuần “, GS Stéphane Thobois, thầy thuốc thần kinh chịu trách nhiệm kích thích vùng sâu não bộ thuộc hôpital neurologique des Hospices civils de Lyon, đã xác nhận như vậy.
Mỗi kíp ngoại thần kinh sử dụng một protocole đặc thù dựa trên diện sinh lý, cho phép, trong lúc giữ cho bệnh nhân thức tỉnh, kiểm tra một cách trực tiếp những hiệu quả của kích thích và như thế điều chỉnh đích. Vài kíp đã chọn mổ không đánh thức bệnh nhân, nhờ những tiến bộ được thực hiện trong lãnh vực hướng dẫn bằng chụp hình ảnh. Trong vài áp dụng, như bệnh Parkinson hay những chứng run, lợi ích có thể được cảm thấy trước hay được kiểm tra đối với mỗi bệnh nhân, nhất là bởi vì những hiệu quả xảy ra tức thời. ” Trong những dystonie, đôi khi phải chờ nhiều tuần để thấy những hiệu quả, và đáp ứng có thể rất thay đổi từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác “, GS Philippe Damier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Nantes đã nhắc lại như vậy. ” Sự thất vọng có thể lớn đối với một động tác vẫn còn nặng nề.” Những điều chỉnh của máy kích thích cần, trong vài tuần đến vài tháng, những thăm khám và/hoặc những nhập viện đều đặn. Một khi một sự cân bằng thỏa mãn đạt được, máy kích thích có thể hoạt động không can thiệp trong 5 đến 10 năm, thời gian sống của pile.
Kinh nghiệm có được đối với những áp dụng “lịch sử” này đã cho phép làm tinh tế những đích, hoàn thiện hóa kỹ thuật ngoại khoa và xử trí bệnh nhân, nhưng cũng cho thấy những hạn chế của kỹ thuật. ” Từ vài năm nay, chúng tôi thấy một cuộc cách mạng mới diễn ra với những thầy thuốc chuyên khoa thần kinh gởi cho chúng tôi những bệnh nhân để được điều trị thương tổn gây nên bởi radio-chirurgie “, GS Jean Régis, trưởng khoa thần kinh chức năng và stéréotaxique đã nhấn mạnh như vậy. ” Điều quan trọng là không được quên những kỹ thuật khác, cũng trải qua những tiến bộ quyết định.”
(LE FIGARO 3/3/2014)

2/ KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ : NHỮNG MỨC ĐỘ CHỨNG CỚ ĐỦ ĐỐI VỚI VÀI RỐI LOẠN TÂM THẦN
Mặc dầu Bộ y tế chỉ công nhận một cách chính thức ba chỉ định để kích thích vùng sâu não bộ, các thầy thuốc được phép thực hiện nó đối với những rối loạn khác khi những công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh được lợi ích. Chính trong khung cảnh này mà vài kíp sử dụng SCP đối với những bệnh nhân bị những rối loạn tâm thần hay thần kinh tâm thần như hội chứng Gilles de la Tourette, những trouble obsessionnel compulsif (TOC). Những áp dụng này chỉ được thực hiện đối với những bệnh nhân bị những thể nặng nhất, đề kháng với các loại thuốc và những liệu pháp hành vi (thérapie comportementale).” Đối với vài bệnh nhân bị TOC, mà démultiplication des rituels ngăn cản họ đi ra khỏi nhà, tác dụng có thể ngoạn mục “, GS Stéphane Thobols, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh phụ trách kích thích vùng sâu não bộ của hopital neurologique des Hospices civils de Lyon, đã nhắc lại như vậy. Chính trong lúc quan sát một sự cải thiện của những TOC ở những bệnh nhân bị bệnh Parkinson và được điều trị bằng kích thích điện vùng sâu não bộ mà các thầy thuốc ngoại thần kinh đã xét đến chỉ định này.
Thật vậy, nhân dưới đồi thị (noyau sous-thalamique) được cấu tạo bởi ba vùng, rất gần nhau. Vùng kiểm soát những chức năng vận động đặc biệt được nhắm vào hơn để chống lại những triệu chứng của bệnh Parkinson, nhưng hai vùng khác đặc biệt dành hơn cho những chức năng nhận thức, xúc cảm và động cơ. Chính hai vùng này được nhắm đến để cải thiện TOC, với một điện cực được đặt trong mỗi nhân dưới đồi thị. Một công trình nghiên cứu quan trọng nhiều trung tâm của Pháp, được công bố năm 2008, đã cho phép xác nhận lợi ích của phương pháp này và mở đường cho một số bệnh nhân nào đó, đã có thể tìm thấy lại một đời sống xã hội.
” Tất cả những bệnh nhân đáp ứng với kích thích vùng sâu não bộ ở những mức độ khác nhau, với tỷ lệ cải thiện biến thiên tử 40 đến 100% “, GS Marc Vérin, trưởng khoa thần kinh của CHU de Rennes và giám đốc của unité de recherche comportements et noyaux gris centraux, đã chỉ rõ như vậy. ” Vậy phương thức này luôn luôn hữu ích vì lẽ nó chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân đặc biệt bị thương tổn.” Tuy nhiên kỹ thuật chưa được sử dụng rộng rãi ở Pháp bởi vì ít được biết đến nhưng cũng bởi vì sự e dè của vài thầy thuốc tâm thần trong việc xét đến những giải pháp ngoại khoa cho loại những rối loạn này.
Trong cùng công trình này, những kíp nghiên cứu Pháp cũng đã có thể cho thấy những tác dụng dương tính của SCP đối với những bệnh nhân bị hội chứng Tourette, bằng cách kích thích phần trong của globus pallidus (cấu trúc não liên quan trong sự kiểm soát cử động). Ngoài lợi ích tức thời lên sự cải thiện những tics, SCP cho phép làm giảm những liều thuốc cần thiết để kiểm soát toàn bộ những triệu chứng. Những bệnh nhân đầu tiên được điều trị cũng đã có thể lấy lại một hoạt động xã hội và nghề nghiệp, bấy nhiêu lợi ích bù lại phí tổn ban đầu của kỹ thuật, lên đến 20.000 euro để đặt những điện cực.
(LE FIGARO 3/3/2014)

3/ KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ : NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐƯỢC TIẾN HÀNH ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH LÝ KHÁC.
” Ngày nay xuất hiện ý tưởng cho rằng kích thích vùng sâu não bộ (SCP : stimulation cérébrale profonde) cho phép tác động lên nhiều đích và có được một sự điều biến thần kinh (neuro-modulation) thật sự, mở ra những lãnh vực áp dụng mới, GS Stéphane Thobois, thầy thuốc thần kinh phụ trách SCP thuộc hôpital neurologique des Hospices civils de Lyon, đã nhấn mạnh như vậy. Trong một lãnh vực có thể dường như vô tận, làm sao nhận diện những chỉ định tốt, nghĩa là những chỉ định tỏ ra có hiệu quả và lợi ích mặc dầu nguy cơ liên kết với ngoại thần kinh, luôn luôn hiện diện ? Trường phái Pháp, tiền phong và có yêu cầu cao, đóng một vài trò quan trọng trong sự xác định những đích này bằng những công trình nghiên cứu nghiêm túc để nhận diện những đích khả dĩ, hiệu quả của chúng và những bệnh nhân có thể được hưởng lợi nhất. Ngoài ra, sự cải thiện của những điện cực, càng ngày càng mảnh hay có khả năng kích thích nhiều vùng trong những hướng khác nhau, cũng tạo điều kiện cho những chỉ định mới.
Những công trình nghiên cứu sơ bộ đã chứng mình lợi ích của kích thích điện vùng sâu não bộ đối với vài loại động kinh, nhưng một công trình nghiên cứu quốc gia nhiều trung tâm, được bắt đầu vào tháng sáu năm 2014, sẽ cho phép xác định một cách chính xác hơn lợi ích của một đích đặc biệt : nhân trước của đồi thị (thalamus). ” Điều quan trọng, đó là tất cả những trung tâm ngoại khoa của bệnh động kinh và của SCP đều can dự vào trong công trình nghiên cứu này, được thực hiện trên 62 bệnh nhân “, GS Stéphan Chabardès, trưởng unité de chirurgie neuro-fonctionnelle thuộc CHU de Grenoble đã chỉ rõ như vậy. Sau đó những kết quả dương tính sẽ dẫn đến một sự cho phép chính thức.
Cũng vậy, những công trình thăm dò đã cho phép quan sát một tác dụng dương tính lên trí nhớ giai đoạn (mémoire épisodique) của những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer. ” Kết quả này có thể đáng lưu ý, nhưng chỉ đối với những bệnh nhân trong giai đoạn đầu của bệnh, khi những thương tổn còn riêng rẻ “, GS Dubois, trưởng đơn vị neurologie cognitive et comportementale thuộc bệnh viện là Pitié-Salpêtrière (Paris) đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên đó không phải là chữa lành bệnh, mà là tránh vài triệu chứng vào giai đoạn đầu của tiến triển : một chỉ định chữa tạm (indication palliative) như vậy chỉ được biện minh nếu có thể nhận diện những bệnh nhân được cải thiện thật sự. Vấn đề cũng được đặt ra đối với bệnh chán ăn tâm thần (anorexie mentale), bệnh phức tạp và đôi khi gây chết người, nhưng trong đó chỉ vài trường hợp được mô tả hôm nay. Những công trình nghiên cứu cũng đang được tiến hành để đánh giá lợi ích của SCP trong bệnh trầm cảm nặng, sự đề kháng đối với những điều trị khác, kể cả sismothérapie.
ÍT NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ HƠN.
SCP có thể cho, trong những trường hợp riêng rẻ, những kết quả rất ngoạn mục. Ở Pháp, nó được thực hiện hơn trên những nhân não (noyaux cérébraux) trong khi o những nước khác trên chất trắng, mà sự kích thích ít hiệu quả hơn nhưng dễ “nhắm” hơn và do đó ít bị nguy cơ những tác dụng phụ hơn. Vậy trong số những nhà nghiên cứu có sự cám dỗ lớn muốn thực hiện kỹ thuật này trên nhiều rối loạn, đôi khi những bệnh lý rất phức tạp như bệnh tự kỷ.
(LE FIGARO 3/3/2014)

4/ ALZHEIMER : HƯỚNG CỦA KÍCH THÍCH ĐIỆN
Gởi những xung động điện vào trong não ở một giai đoạn sớm của bệnh dường như cho những kết quả dương tính, mặc dầu bị hạn chế trong thời gian
NEUROLOGIE. Tên kỹ thuật có thể dường như hơi man man rợ, tuy vậy kích thích từ qua sọ (stimulation magnétique transcranienne) (hay TMS) là một kỹ thuật y khoa không gây đau và không xâm nhập. Kỹ thuật này đã chứng minh tính hiệu quả trong điều trị những trường hợp trầm cảm nặng đề kháng, những ý tưởng hoang tưởng ở bệnh nhân tâm thần phận liệt và những trường hợp đau mãn tính. Những các nhà thần kinh học và tâm thần học, tin chắc rằng phương pháp kích thích não bộ này đã chưa để lộ tất cả tiềm năng điều trị của nó, thí nghiệm nó trong những lãnh vực khác. Trong số những lãnh vực này, những di chứng của một tai biến mạch máu não, bệnh Parkinson hay Alzheimer, mà các thầy thuốc hy vọng kềm chế vài triệu chúng nho công cụ này.
” Nguyên tắc của TMS là điều biến (moduler) hoạt động của những vùng não hoạt động bất thường để có được một sự cải thiện của vài chức năng “, GS Emmanuel Haffen, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc CHU de Besançon, đã phát biểu như vậy. Một cách cụ thể, một bobine đơn giản, được đặt trên sọ của bệnh nhân, phát ra một xung động điện một cách liên tiếp lên bề mặt của não. Từ trường sinh ra những dòng điện nhỏ (microcourant) sẽ biến đổi hoạt động của các neurone và cách liên lạc của chúng.
Mục tiêu không phải là điều trị nguyên nhân của căn bệnh, càng không phải chữa lành nó, nhưng là để làm chậm lại sự sa sút không thể tránh được của những chức năng nhận thức. Vậy sự kích thích phải xảy ra ở giai đoạn sớm, khi những thương tổn vẫn còn khu trú.” ” Chúng tôi thành công ổn định những bệnh nhân, thậm chí cải thiện họ, Eyal Baror, tổng giám đốc của Meuronix, một start up của Israel đề nghị điều trị này, đã đảm bảo như vậy. Sau những buổi điều trị, vài người tìm thấy lại những năng lực mà họ đã đánh mất, như năng lực có thể đàm thoại hay tìm lại đường đi đến nhà cầu trong nhà.”Máy, được hiệu chính bởi công ty này, gởi những xung động điện đến những vùng não bộ bị bệnh Alzheimer. Những thương tổn này được định vị trước, ở mỗi bệnh nhân, nhờ chụp cộng hưởng từ (IRM). Vào cùng lúc, ngồi trước một màn ảnh, bệnh nhân bắt đầu những bài tập nhằm bắt làm việc trí nhớ, ngôn ngữ, khả năng bệnh nhân định hướng trong không gian hay nhận biết những gương mặt. ” Kích thích điện mặc dầu có hơi ồn, nhưng không gây đau và không có những tác dụng phụ “, Eyal Baror đã kể lại như vậy. Thời gian điều trị kéo dài một tháng.
Theo những công trình nghiên cứu khoa học đã được tiến hành, protocole này được thể hiện bởi một sự cải thiện vài điểm trên thang điểm đo lường những hiệu năng nhận thức (performance cognitive), với một lợi ích được duy trì trong nhiều tháng. ” Những kết quả này có thể so sánh với những kết quả mà ta có được với những loại thuốc, Gilles Kemoun, giáo sư y khoa vật lý và phục hồi chức năng ở Poitiers, đã nhấn mạnh như vậy. Sự việc kích thích được thực hiện vừa nhân tạo vừa tự nhiên (qua những bài tập) tạo một tác dụng cộng hưởng có lẽ làm gia tăng những lợi ích.”
Thí dụ, sau điều trị, Jacques, 75 tuổi, đã tìm lại sự ham thích đối với đời sống xã hội. ” Mặc dầu dùng thuốc, chồng tôi vẫn rất rất nội hiện (intériorisé), vợ ông đã làm chứng như vậy. Sau khi được kích thích não bộ, ông đã chấp nhận đi ra khỏi nhà để ăn tối với bạn bè và đi xem chớp bóng. Hôm nay ông hiện diện nhiều hơn. Ông đã bắt đầu đọc báo trở lại. Trái lại trí nhớ của ông đã không thật sự được cải thiện.”
Ở Pháp, chính bệnh viện Besançon mà kích thích não ngoại biên (stimulation cérébrale superficielle) được thí nghiệm. 10 buổi, mỗi buổi 30 phút được đề nghị cho những bệnh nhân được đưa vào trong dự án nghiên cứu này. Một đánh giá được thực hiện 1 tháng sau. GS Hanffen nói : ” Chúng tôi có được những kết quả dương tính trong ba trắc nghiệm nhằm đo trí nhớ thị giác (mémoire visuelle), trí nhớ ngôn từ (mémoire verbale) và hiệu năng nhận thức (efficience cognitive). Ngoài ra những người giúp đỡ báo cáo một ảnh hưởng lên chất lượng sống hàng ngày.”
Mặc dầu kỹ thuật dường như hứa hẹn, sự nghiên cứu vẫn ở một giai đoạn rất sớm. Để đi xa hơn, những công trình nghiên cứu cần những công trình nghiên cứu trên một số những bệnh nhân quan trọng hơn. Ngoài ra vẫn còn những nghi vấn về thời gian tồn tại của những hiệu quả dương tính, có vẻ phù du trong những công trình được tiến hành, và về cách tác dụng của TMS. Vài thầy thuốc thần kinh tự hỏi không biết là kích thích não trước hết có tác động lên những triệu chứng trầm cảm, thường kèm theo bệnh Alzheimer, hơn là lên sự sa sút nhận thức nói riêng.
” Chúng tôi ở giai đoạn đầu của một cuộc phiêu lưu, GS Toni Valero-Cabre, nhà nghiên cứu CNRS thuộc Viện não và tủy sống (Paris) đã nói như vậy. Sự thăm dò hướng mới này càng đáng lưu ý khi những thuốc hiện có , thường kèm theo những tác dụng phụ, cho thấy một tính hiệu quả hạn chế.” Thierry Gallarda, thầy thuốc tâm thần chuyên về điều trị những bệnh sa sút trí tuệ ở bệnh viện Sainte-Anne nói : ” Sự không có điều trị hiệu quả khiến phải phát triển những điều trị hướng về quản lý phế tật, ở mỗi giai đoạn của bệnh, hơn là hướng về mục tiêu của một sự chữa lành thật sự.”
(LE FIGARO 27/1/2014)

5/ TOC (TROUBLE OBSESSIONNEL COMPULSIF) : NHỮNG KÍCH THÍCH NÃO CÓ HIỆU QUẢ LÂU DÀI
BS Luc Mallet, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, giám đốc nghiên cứu ở Inserm, lauréat du prix Marcel Dassault 2013, bình luận về những kết quả của những công trình nghiên cứu : chúng cho thấy một sự tồn tại trong thời gian của những lợi ích của những kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde).
Hỏi : Những Toc (trouble obsessionnel compulsif) được biểu hiện như thế nào ?
BS Luc Mallet : Những người bị bệnh Toc (2 đến 3% dân số) có những ám ảnh lo âu (obsessions angoissantes) buộc họ phải thực hiện những động tác lặp đi lặp lại mặc dầu ý thức về những điều vô lý của họ. Sự nhận thức này, rất là đau khổ, sinh ra một cảm giác xấu hổ. Những rối loạn thường gặp nhất được thể hiện bởi những nỗi lo sợ bị lây nhiễm (dẫn đến những rituel không ngừng), những hoài nghi thường trực (như sợ đã không đóng cửa, buộc trở lại liên tục). Trong những thể nặng, những rối loạn này có thể có những ảnh hưởng nghiêm trọng lên cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.
Hỏi : Ta có biết nguồn gốc của những Toc này không ?
BS Luc Mallet : Chắc chắn có một yếu tố di truyền, nhưng chưa được nhận diện. Nguyên nhân vẫn mù mờ. Nhưng ta biết rõ hơn những vùng não hoạt động một cách bất thường : những vùng có liên quan trong sự kiểm soát hành động, tư duy, động cơ. Ta nhận diện chúng bằng một thăm dò IRM chức năng.
Hỏi : Những điều trị chuẩn là gì ?
BS Luc Mallet : Chúng tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của những triệu chứng, những ảnh hưởng của căn bệnh lên sự hiện hữu của bệnh nhân. Tùy theo những trường hợp, ta có thể kê đơn hoặc là một tâm lý liệu pháp, hoặc là một điều trị bằng thuốc với những thuốc chống trầm cảm. Đối với những bệnh nhân đề kháng với những điều trị này, ta xét đến một kích thích thần kinh vùng sâu não bộ (neurostimulation cérébrale profonde)
Hỏi : Protocole của những kích thích này là gì ?
BS Luc Mallet : Có một giai đoạn đầu trong đó bệnh nhân được nhập viện đôi khi nhiều tuần, để nhận một điều trị tăng cường, liên kết thuốc với tâm lý liệu pháp. Chỉ trong trường hợp thất bại khi đó ta mới đề nghị một kích thích thần kinh (neurostimulation). Sự kích thích điện này nhằm cắm những điện cực trong vài phần sâu của não bộ để phát ra ở đó một dòng điện liên tục. Một máy tạo nhịp (pacemaker), được đặt dưới xương đòn, được nối với những điện cực này bằng một dây câble được đặt dưới da. Những kích thích biến đổi hoạt động bất thường của những vùng bị rối loạn và làm giảm hay làm biến mất những triệu chứng.
Hỏi : Trong thời hạn ngắn hạn những kết quả nào đã có được với điều trị này ?
BS Luc Mallet : Cách nay 7 năm, tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu đầu tiên trên những bệnh nhân bị bệnh Toc rất nghiêm trọng. Ở 2/3 trong số những bệnh nhân này, tình trạng của họ đã được cải thiện với một chất lượng sống tốt hơn và vài bệnh nhân đã có thể có một cuộc sống bình thường.
Hỏi : Sau những kết quả này, ta sợ điều gì ?
BS Luc Mallet : Ta không biết là tính hiệu quả trong thời gian ngắn hạn này có sẽ kéo dài voi thời gian hay không và ta không biết những tác dụng trong thời hạn dài hạn, can thiệp này dẫu sao cũng bao hàm những nguy cơ.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu có cho những câu trả lời cho những câu hỏi này không ?
BS Luc Mallet : Chúng tôi vừa chấm dứt với kíp của Grenoble một công trình nghiên cứu trên hai nhóm, mỗi nhóm có 16 bệnh nhân, bị bệnh rất nặng, và được theo dõi trong ba và năm năm. Mục đích của công trình này là phân tích sự tồn tại của tính hiệu quả của điều trị trong thời hạn dài hạn, và sự xuất hiện khả dĩ của những tác dụng phụ.
Hỏi : Những câu trả lời được tìm thấy là gì ?
BS Luc Mallet : Trong thời gian dài hạn, 70% những bệnh nhân được điều trị bằng kích thích vùng sâu não bộ có được cùng kết quả dương tính như trong thời gian ngắn hạn. Chất lượng sống của họ đã được cải thiện rõ rệt và ở vài người những rối loạn gần như đã biến mất. Theo những phân tích của chúng tôi, những nguy cơ ngoại thần kinh thấp như xuất huyết não (dưới 1%) và nhiễm trùng của matériel implanté không khác với những nguy cơ đã được biết đối với can thiệp này. Do đó, tầm quan trọng dành kỹ thuật này cho những trường hợp trầm trọng nhất. Những kết quả này, chứng tỏ sự tồn tại của những lợi ích của điều trị mà không có những tác dụng phụ đáng sợ, sẽ được công bố trong thời gian sắp đến.
Hỏi : Ta có biết tại sao khoảng 30% những bệnh nhân được điều trị đề kháng với những kích thích này ?
BS Luc Mallet : Ta không biết những lý do, nhưng những nghiên cứu đầy hứa hẹn đang được tiến hành. Ta sẽ nhận diện được những vết hoạt động của vài neurone có liên quan đến các triệu chứng. Chúng có thể đoán trước đáp ứng với những điều trị. Khi đó chúng ta sẽ có thể áp dụng những điều trị cá thể hóa (traitements personnalisés).
(PARIS MATCH 30/1-1/2/2014)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://7x8x.forumvi.com
Admin
Admin


Posts : 307
Join date : 17/01/2016

Bài gửiTiêu đề: Re: KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ.   Sat Jan 23, 2016 7:39 pm

6/ MẶT TRỜI LÀ MỘT THUỐC CHỮA CAO HUYẾT ÁP.
Sự tiếp xúc của những người tình nguyện với những liều tia tử ngoại tương đương với 30 phút sưởi nắng mặt trời làm giảm nhẹ huyết áp : đó là điều được quan sát bởi những nhà nghiên cứu của các đại học Edimbourg và Southampton (Vương quốc Anh). Ta đã biết rằng cao huyết áp và những bệnh tim mạch biến thiên tùy theo các mùa và vĩ độ : số những trường hợp gia tăng vào mùa đông và cũng càng gia tăng khi ta càng xa dần xích đạo. Những hiệu quả này chủ yếu được quy cho những nhiệt độ. Những kết quả có được bởi Martin Feelish và những đồng nghiệp của ông gợi ý sự hiện hữu của một cơ chế khác, căn cứ trên monoxyde d’azote. Phân tử này, chủ yếu được chế tạo bởi thành của các huyết quản, có tác dụng làm hạ huyết áp. Da cùng là nơi chứa những dự trữ quan trọng của phân tử này, mà sự hữu ích cho đến nay không được biết rõ lắm. Một lý thuyết mới, đó là những tia tử ngoại hoạt hóa những dự trữ này. ” Một sự gia tăng, ngay cả ít ỏi, của huyết áp cũng làm gia tăng một cach đáng kể những nguy cơ tim mạch. Vậy ta có thể giả định rằng nếu một sự tiếp xúc vừa phải với ánh nắng mặt trời làm giảm nhẹ huyết áp, sẽ có một lợi ích, Martin Feelish đã giải thích như vậy. Còn cần phải xác nhận tác dụng này ở những người bị cao huyết áp.”
(SCIENCE &VIE 3/2014)

7/ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THẦN KINH CÓ HIỆU QUẢ TRONG BỆNH PARKINSON KHÔNG ?

Professeur Jean-Michel Gracies
Chef de service de rééducation
neurolocomotrice
Hôpitaux universitaires Henri-Mondor
Université Paris-Est Créteil.

Bệnh Parkinson là một bệnh của hệ thần kinh trung ương có diễn biến dần dần, gây nên, trên bình diện vận động, những vấn đề chức năng ảnh hưởng một cách điển hình lên những hoạt động, bị trở thành “tự động” như đứng dậy, bước đi, sự phát ngôn… Những nguyên nhân hàng đầu của nó cho đến hôm nay vẫn không được biết rõ. Trước khi bệnh Parkinson là đối tượng của những lựa chọn điều trị, hoặc là đã hiệu quả và được sử dụng rộng rãi, hoặc đầy hứa hẹn. điều quan trọng cần nhấn mạnh là đối với người có thể dường như bị bệnh này, trước hết những vấn đề quan trọng được đặt ra là chẩn đoán bệnh Parkinson. Sự làm sáng tỏ thận trọng những vấn đề này là một điều kiện tiên quyết cơ bản để hạn chế những lo âu vô ích hay cho không đúng lúc những loại thuốc đôi khi rất mạnh.Vào năm 1817, BS James Parkinson công bố mô tả đầu tiên điều mà ông gọi là ” paralysie agitante “, một hội chứng lâm sàng mà ông định nghĩa như là sự liên kết của chứng run lúc nghỉ ngơi (tremblement de repos) và festination, triệu chứng khó bước đặc trưng của bệnh. Vào lúc ông mô tả căn bệnh này, phát xuất từ 7 trường hợp, James Parkinson không ngờ rằng nó sẽ được mô tả thường xuyên 200 năm sau (2% dân số thế giới hơn 65 tuổi được liệt kê bị bệnh có lẽ là một đánh giá thấp) và được nhận biết như là một liên kết của bradykinésie (cử động chậm lại), rigidité (sự đề kháng gia tăng chống lại cử động thụ động), run lúc nghỉ ngơi (không nằm trong định nghĩa nguyên thủy) và những rối loạn tư thế (posture) và bước. Ta cho rằng một người mà những cử động dần dần trở nên bị giới hạn, nhất là ở một phía của cơ thể, có thể bị bệnh Parkinson (được gọi là không rõ nguyên nhân) nếu, sau 5 đến 7 năm tiến triển, người này luôn luôn có thể xê dịch mà không cần xe lăn, không có vấn đề tiểu tiện quan trọng, không bị malaise quan trọng lúc chuyển sang tư thế đứng và không có những rối loạn nghiêm trọng về trí nhớ. Ngược lại, nếu những rối loạn này xảy ra sớm và nghiêm trọng, ta nói là hội chứng Parkinson hay ” parkinsonisme” không điển hình.
MỘT CUỘC CÁCH MANG THỨ BA.
Đã phải cần 150 năm để sau cùng thấy thực hiện (từ những năm 1960) những cuộc cách mạng điều trị lớn mà các bệnh nhân hưởng được ngày nay. Chúng đã cho phép thấy một căn bệnh ngày xưa “nan y” được bình thường hóa thành một bệnh trở nên tương đối được kiểm soát tốt bằng những điều trị và “sống được” dài lâu trong nhiều năm : những điều trị bằng thuốc (dopamine) và ngoại khoa (SCP : stimulation cérébrale profonde : kích thích điện vùng sâu não bộ). Mặc dầu hai bước nhảy vọt tuyệt vời này, ta chứng thực ở người bị bệnh, không những những tác dụng phụ, mà còn một sự gia trọng không thể tránh được của những rối loạn nhận thức và vận động, mặc dầu sự trầm trọng này diễn ra chậm hơn cách nay 50 năm.
Những dữ kiện nghiên cứu ngày nay đủ để hy vọng một cuộc cách mạng thứ ba đang chuẩn bị, nhờ những kỹ thuật phục hồi chức năng. Vẫn còn ít được khai thác so với những điều trị khác, luyện tập vật lý và kiné liệu pháp tuy vậy đóng một vai trò không phải là không đáng kể. Những người bị bệnh trái lại thường có một lối sống ít hoạt động về phương diện vật lý làm gia trọng sự tiến triển của bệnh, theo những kết quả thu được ở những mô hình động vật.
Chỉ với những ý thức đầu tiên về những hạn chế của thuốc và sự phát triển quan trọng củatsyh340 7 những mô hình động vật của bệnh từ những năm 1980, mà sự nghiên cứu đã bắt đầu dành sự quan tâm cho những kỹ thuật phục hồi thần kinh (technique de neuroéducation). Có lẽ rằng những kỹ thuật điều trị vật lý tiêu chuẩn hóa chẳng bao lâu trở thành một cột trụ của điều trị những hội chứng Parkinson, dầu nguyên nhân của chúng là gì (không rõ nguyên nhân hay không điển hình).
Đối với những giai đoạn ít tiến triển của bệnh, sự tăng cường vận động ở các chi dưới là kỹ thuật được xác lập vững chắc nhất hiện nay. Đó chủ yếu là công tác bền bỉ có cường độ cao lên các cơ của đùi và các bắp chân, nhằm cải thiện sự cân bằng lúc bước, giảm sự chậm chạp của cử động và sự cứng cơ và cũng cải thiện những score trên những thang điểm chất lượng sống. Những công trình nghiên cứu mới đây cũng cho thấy rằng vài tuần exercice en aérobie (vélo, bước, chạy) cường độ cao cải thiện bước đi, những động tác bằng tay, nhưng cũng vài chức năng trí nhớ và trí năng.
Cũng được nhận thấy rằng sự gia tăng chú ý đối với một công việc vận động làm gia tăng một cách đáng kể hiệu năng trong sự thực hiện công tác này. Những chỉ thị bằng lời nói đặc thù và lập lại cũng hiệu quả để để cải thiện cử động.
VÀI THÁNG TÀI CHI
Thí dụ, chỉ thị lặp đi lặp lại trong nhiều tuần của một chương trình kiné liệu pháp, tập trung vào một bước đi dài trong khi bước, cho phép làm gia tăng không những chính chiều dài cửa bước chân, mà còn động tác đu đưa của các cánh tay và tốc độ bước. Cũng vậy với vài tín hiệu thị giác hay thính giác. Người ta cũng đã chứng tỏ rằng vài tháng tài-chi cải thiện một cách rõ rệt sự cân bằng và bước đi. Những chương trình này phải được tiếp tục lâu dài để những lợi ích có thể được duy trì, thậm chí được tặng cường theo dòng thời gian.
Ở những người đã đến một giai đoạn tiến triển của bệnh, mọi cố gắng có thể được tập trung vào giảng dạy cho bệnh nhân nếu có thể, và nhất là những người theo kèm bệnh nhân, những chiến lược bù (stratégie de compensation), cho phép gìn giữ càng nhiều autonome fonctionnelle càng tốt. Những stratégie comportementale, sự phân tích những séquence phức tạp của những cử động thành những sous-squence đơn giản hơn, sự biến đổi môi trường hàng ngày ở nhà (nâng lên các ghế ngồi, giường hay những toilette..), những hỗ trợ kỹ thuật để bước (canne)…là bấy nhiêu những công cụ cần khai thác.
Vậy nhiều trong số những kỹ thuật phục hồi chức năng này phải được công nhận, bởi vì chúng đã chứng mình một hiệu quả điều trị tương tự với hiệu quả của các loại thuốc. Bây giờ một thách thức lớn là trắc nghiệm giả thuyết, phát xuất từ những công trình nghiên cứu động vật, về một hiệu quả bảo vệ thần kinh của vài trong số những điều trị vật lý này.
(LE FIGARO 30/9/2013)

8/ BỆNH LAO ĐỀ KHÁNG KHÔNG TIẾN TRIỂN CHẬM HƠN.
Khi một trực khuẩn Koch, tác nhân gây bệnh lao, trở nên đề kháng với các kháng sinh, các nhà khoa học cho đến nay vẫn nghĩ rằng điều đó làm chậm lại tốc độ tăng sinh của nó. Nói một cách khác, mặc dầu nhiễm trùng khó điều trị hơn, tuy nhiên nó có khuynh hướng tiến triển ít nhanh hơn trong cơ thể. Lý thuyết này vừa bị xét lại bởi sự phân tích một ngàn giống gốc vi khuẩn được lấy trên những bệnh nhân người Nga. Trong nước Nga, nước bị ảnh hưởng nhất bởi lao đề kháng, sự khảo sát của génome của các trực khuẩn lao đã phát hiện hai loại biến dị : vài loại, như được dự kiến, chịu trách nhiệm sự đề kháng với điều trị (isoniazide và rifampicine)… trong khi những loại khác làm dễ sự tăng sinh của tác nhân nhiễm trùng, làm gia tốc sự lan tràn của nó. Khám phá đáng ngạc nhiên này đặt ra một vấn đề y tế công cộng thật sự. ” Những dạng đề kháng là gây chết người nhất và khó điều trị nhất “, một trong những tác giả, Francis Drobniewski, thuộc đại học Londres, đã nhấn mạnh như vậy. Hiện nay, dịch lao có khuynh hướng thụt lùi : bệnh lao đã gây nên 8,6 triệu người bị bệnh vào năm 2012. Những trường hợp lao đa đề kháng đang tiến triển một cách hằng định, với 450.000 bệnh nhân được liệt kê năm nay.
(SCIENCE & VIE 4/2014)

9/ TA CÓ THỂ GIA TĂNG KHOÁI LẠC NHỤC DỤC NHỜ NGOẠI KHOA ?tsyh340 8tsyh336 9Câu hỏi của cô phát xuất từ ý tưởng cho rằng khoái lạc trước hết là một vấn đề cơ học. Và rằng khi can thiệp lên những cơ quan sinh dục của chúng ta, sẽ có thể làm cho cảm giác khoái lạc này mạnh hơn. Không phải là như vậy… Trước lòng ham muốn (désir), cảm giác khoái lạc nảy nở theo dòng thời gian của những kích thích lên những vùng kích dục (zone érogène), vốn rất giàu những thụ thể giác quan (récepteurs sensoriels) được gọi là ” những vi thể khoái lạc” (corpuscule de volupté). Những vi thể này được cấu tạo bởi những tận cùng thần kinh biệt hóa, gởi những luồng thần kinh về phía não bộ để nó phân tích các cảm giác. Nếu não bộ giải thích chúng như là khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel), cô sẽ cảm thấy điều đó. Ngược lại, nếu có một sự phong bế (blocage) hay một sự thiếu ham muốn, não bộ sẽ không cảm nhận nó. Như thế, một phần quan trọng của phản ứng khoái lạc đi qua não bộ, chứ không phải là sự cọ xát đơn thuần của các niêm mạc.
Điều cô phải biết…
Một can thiệp chỉ có thể làm gia tăng những cảm giác nếu nó điều chỉnh một bất thường hay một sự cắt xẻo (mutilation), như một cắt bỏ (excision). Xẻ những mô sinh dục bằng một con dao, may chúng lại với kim và chỉ…những động tác này gây nên những xâm phạm ở các cơ, cắt nhưng dây thần kinh và tạo những vết sẹo, điều này là một nguy cơ đối với cảm giác và khoái lạc.
Không một phẫu thuật nào có thể có tác dụng dương tính lên những capteur hay những vi thể khoái lạc. Một piercing, được thực hiện trên những phần kín trong mục đích làm gia tăng tính nhận cảm của cơ quan sinh dục (sensibilité génitale), mặc dầu xâm phạm cơ thể, có thể tác động trên bình diện fantasmatique… Một lối làm không phải là không có nguy cơ (vấn đề hóa sẹo, nhiễm trùng, dị ứng…)
Điều đôi khi được đề nghị…
Một can thiệp nhằm siết chặt âm đạo lại (vaginoplastie). Được thực hiện bởi những thầy thuốc tạo hình (chirurgien plasticien), phẫu thuật này rất thịnh hành ở Hoa Kỳ. Nhưng trong trường hợp sự ham muốn thấp hay sự khoái lạc được đánh giá là không đủ, đó không phải là một giải pháp. Thực hiện một musculation périnéale hiệu quả hơn nhiều, ít gây nguy cơ hơn, lành mạnh và tự nhiên hơn. Phương pháp rééducation này đã chứng tỏ rằng nó làm gia tăng những cảm giác khoái lạc (sensations voluptueuses) và khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel) ở các phụ nữ.
Những mũi tiêm acide hyaluronique hay mổ vào thành của âm đạo ở điểm G. Nhằm kích thích khoái lạc thì chỉ có những chuyên viên xứng danh mới thực hiện mà thôi. Nếu cách làm này có hiệu quả, thì cùng mũi tiêm này vào trong dương vật cũng sẽ làm gia tăng khoái lạc nam giới ! Nghiêm trọng hơn, phương thức này gây nên một nguy cơ trầm trọng, đó là làm thủng niệu quản. Vậy cần phải tránh.
Cắt bao quy đầu âm vật (circoncision du clitoris), nhằm lấy đi cái mũ trùm (capuchon) của âm vật, như ta lấy đi bao quy đầu (prépuce) ở đàn ông. Thế mà, ở đàn ông, sự cắt bao quy đầu không có tác dụng đặc biệt lên những cảm giác khoái lạc. Phẫu thuật này ngay cả bị nghi ngờ làm giảm tính nhạy cảm của quy đầu (gland). Ta không hiểu tại sao nó có tác dụng ngược lại lên âm vật ! Cũng phải ghi nhận rằng vài phụ nữ bị cắt mũ trùm của âm vật có thể bị những khó khăn sinh dục sau đó.
Nói tóm lại, những động tác ngoại khoa hung bạo này ít có khả năng mang lại một lợi ích. Chúng được đòi hỏi bởi những người muốn tìm kiếm những kết quả mau chóng và gần như điều kỳ… nhưng rồi có thể rất bị thất vọng.tsyh340 9(TOP SANTE 4/2014)

10/ PAPANICOLAOU, LE “PAP” DU FROTTIS.
PAP giai đoạn I, II, III, IV, đó là một inscription mà những người trẻ tuổi nhất trong chúng ta không thường thấy nữa, nhưng vẫn là signature của một trong những trắc nghiệm phát hiện ung thư cách mạng nhất. Chúng ta chịu ơn một người Hy Lạp, một hôm nào đó, đã có một ý tưởng thiên tài.tsyh340 10George Papanicolaou sinh ở Kimi trong đảo Eubée (Hy Lạp) vào năm 1883. Ông là con của Nicholas Papanicolaou, thầy thuốc, thị trưởng và nghị sĩ, và của Maria, một phụ nữ có học và nghệ sĩ. Với anh và hai em gái, George tận hưởng cuộc sống ngoài trời, thích canotage và leo núi.
Ông chỉ bắt đầu đi học lúc 11 tuổi, nhưng năm 15 tuổi ông được nhận vào đại học Athènes để học điều tương đương với cổ học (humanités) và âm nhạc. Tôn trọng mong ước của cha ông, ông tiếp tục theo học ở đại học y khoa và tốt nghiệp năm 1904, lúc 21 tuổi. Trong hai năm, ông phục vụ trong quân đội như phụ tá ngoại khoa (assistant-chirurgien). những năm tiếp theo, ông dành thời gian cho trại hủi (léproserie) của thành phố quê ông.
Nhưng George ham hiểu biết và đi Munich, đến Institut zoologique nổi tiếng nhất thế giới. Vị giáo sư đầu tiên của ông Ernst Haekel, được biết như là một trong những người đầu tiên ủng hộ thuyết của Darwin (darwinisme). Với ông, George nhận được bằng tiến sĩ động vật học năm 27 tuổi.
CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH.
Lên đường đi Paris, Papanicolaou dừng lại ở Viện hải dương học Monaco và chấp nhận đề nghị bất ngờ gia nhập kíp với tư cách nhà sinh lý học. Nhưng ông bị gọi về lại Hy Lạp vì mẹ ông qua đời, ở đây ông yêu và cưới Mary, con gái của một sĩ quan cao cấp quân đội. Ông bị giữ lại vì cuộc chiến tranh vùng Balcans (1912-1913) chống lại quân Thổ. Trong cuộc chiến này ông phục vụ với tư cách thiếu úy quân y.
Sau đó đôi vợ chồng đi Hoa Kỳ và đến Ellis Island ngày 19 tháng 10 năm 1913 với đủ tiền để làm visa và không biết nói tiếng Anh. Đệ nhất thế chiến bùng nổ nhưng Georges vẫn ở lại châu Mỹ. Ông chấp nhận mọi việc làm : bán thảm, chơi violon trong các hiệu ăn, nhân viên văn phòng trong một tờ báo Hy Lạp. Cuối cùng ông tìm được một chức vụ : trợ lý (assistant) ở khoa cơ thể bệnh lý của New York Hospital và ở Cornell Medical College. Ông xin vào quốc tịch Hoa kỳ và được chấp nhận năm 44 tuổi.
FROTTIS, UN COUP DE CHANCE.
Vào năm 33 tuổi, George lao mình vào nghiên cứu những nhiễm sắc thể sinh dục (chromosomes sexuels) của các con heo Ẩn độ. Ông có ý nghĩ rằng những con heo cái có một chu kỳ kinh nguyệt mặc dầu không có một sự xuất huyết nào được nhận thấy. Nếu như vậy, cần có những thông tin cần thiết trong các dịch tiết âm đạo. Frottis đầu tiên …của một con heo Ấn độ ra đời như thế đấy !.
Sau đó ông khảo sát dịch âm đạo phụ nữ để quan sát ở đó những giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt. Trong số những bệnh phẩm được lấy từ những người tình nguyện, ông nhận diện những tế bào ung thư và bảy năm sau (1923), ông mô tả trước một cử tọa ít được thuyết phục, một kỹ thuật mới nhằm trải những mảnh tế bào âm đạo ra trên một lamelle thủy tinh để quan sát chúng với kính hiển vi. Ông đã kêu lên : ” Khám phá đầu tiên những tế bào ung thư trong các chất dịch của cổ tử cung đã cho tôi sự ớn lạnh lớn nhất mà tôi đã từng cảm thấy trong cuộc đời khoa học của tôi “. Ông đề nghị kỹ thuật này cho những dịch khác : hô hấp, đường tiểu, tiêu hóa, vú.
Nhân hội nghị y khoa ở Battle Creek (Michigan) năm 1928, ông trình bày một trắc nghiệm rẻ tiền nhằm điều tra phát hiện những tế bào bất thường. Tuy nhiên, ông vấp phải thái độ hoài nghi và sự đề kháng của cộng đồng y khoa, cho ông là một affabulateur.
Papanicolaou liên kết với thầy thuốc phụ khoa Herbert Traut để xuất bản một sách giáo khoa (1943) và một atlas (1954), không có chúng frottis có lẽ vẫn còn nằm trong bóng tối. Chỉ đầu những năm 50 mà sự điều tra phát hiện đại chúng bằng frottis sau cùng cho phép làm giảm một cách lịch sử tỷ lệ của ung thư này.
KHIÊM TỐN VÀ CẦN CÙ.
Ông dành những nghiên cứu độc nhất cho sinh lý học sinh sản và cho phương pháp tế bào học của ông và hai cơ sở nơi ông làm việc vinh danh những khám phá của ông bằng cách đặt tên ông cho những phòng xét nghiệm.
Vào năm 68 tuổi, Georges Papanicolaou được chỉ định làm professeur honoraire d’anatomie clinique ở Cornell và 10 năm sau ông trở thành giám đốc của Viện ung thư Miami. Than ôi, ông qua đời sau 3 tháng vì nhồi máu cơ tim, lúc được 78 tuổi. Năm sau, viện được đặt tên lại Papanicolaou Cancer Research Institute.
Là người làm việc không mệt mỏi, Panicolaou không bao giờ đi nghỉ hè. Ông cũng không coi trọng lắm 150 tài liệu xuất bản và 53 bằng khen thưởng liên quan đến sự phát minh cytologie exfoliative. Theo ông, ông đã có nhiều may mắn.
16 năm sau khi ông qua đời, Hoa Kỳ dành cho ông một con tem 13 cents. Hy Lạp cũng làm như thế nhiều lần và, vào năm 1995, ông được vinh danh trên một tờ giấy bạc 10.000 drachmes.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/3/2014)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/4/2014)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://7x8x.forumvi.com
 
KÍCH THÍCH ĐIỆN VÙNG SÂU NÃO BỘ.
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN TUỔI 7X-8X :: SỨC KHỎE-
Chuyển đến